Thursday, February 14, 2019

5 Cấp độ lãnh đạo

ĐTC - 5 Cấp độ lãnh đạo của John C. Maxwell

Theo bạn LÃNH ĐẠO LÀ GÌ? có bao nhiêu cấp LÃNH ĐẠO?


Dù bạn là ai, đang ở đâu thì bạn vẫn đang là 1 lãnh đạo…

Nhưng ở cấp độ lãnh đạo nào, họ đối xử với nhân viên như thế nào, họ nghĩ gì về kết quả, thời hạn và nhiều thứ khác nữa? Mỗi nhà lãnh đạo quản lý ở cấp độ của mình. Theo John C. Maxwell, có năm cấp độ lãnh đạo.


Khi biết được những kiến thức này, bạn có thể nhong chóng phát triển lên những tầng lãnh đạo cao mà không cần mất quá nhiều thời gian trải nghiệm để rút ra bài học.

5 CẤP ĐỘ LÃNH ĐẠO LÀ NHỮNG GÌ?

Cấp độ đầu tiên là điểm xuất phát của sự lãnh đạo. Đối với mỗi cấp độ, John Maxwell giải thích cách mà một nhà lãnh đạo tương ứng được xác định và cách người đó có thể làm để phát triển lên cấp độ cao hơn.

Cấp bậc lãnh đạo với mỗi người là khác nhau và thậm chí liên quan đến loại hình doanh nghiệp và kinh nghiệm bản thân người lãnh đạo đã trải qua.

Các cấp độ bắt đầu với sự hiểu biết sâu sắc về các mối quan hệ cá nhân và sự kết nối với những kết quả đạt được. Từ đó, nó tiếp tục phát triển đến mức mà nhân viên tin tưởng vào tầm nhìn của lãnh đạo của họ.

Kết quả là các nhà lãnh đạo sẽ đào tạo những người kế nhiệm họ một cách hợp lý. Nó kết thúc khi người lãnh đạo được nhìn nhận như một tấm gương cho những người xung quanh.

Theo Maxwell “sau mỗi cấp độ, luôn luôn có khả năng phát triển hơn nữa“.

Đôi điều về John C. Maxwell: Ông là guru, chuyên gia và bậc thầy nổi tiếng nhất thế giới về nghệ thuật lãnh đạo với trên 13 triệu bản sách bán ra trên toàn thế giới, cũng như Phillip Kotler là guru, bậc thầy về Marketing hay Michael Porter về chiến lược kinh doanh.

1. VỊ TRÍ
Đây là điểm xuất phát của khả năng lãnh đạo. Đây là nơi một người nắm quyền lãnh đạo một doanh nghiệp, tổ chức mà không gặp phải bất cứ khó khăn nào.

Bất cứ ai cũng có thể được bổ nhiệm vào chức vụ này. Vì lý do đó, khởi điểm này không giúp bạn hiểu gì về tố chất lãnh đạo của một cá nhân.
Ở cấp độ này, người lãnh đạo hiếm khi hoặc thậm chí không có tầm ảnh hưởng đến người khác và anh ta chỉ lạm dụng chức vụ của mình để ép mọi người làm việc.
John Maxwell lập luận, lối diễn đạt “nỗi cô đơn trên đỉnh cao quyền lực” là điển hình cho mức độ lãnh đạo này; nhân viên không coi người lãnh đạo như một người họ có thể tin tưởng mà chỉ là người cùng thảo luận vấn đề mà thôi.
Nhân viên làm việc dưới trướng một nhà lãnh đạo như thế thường không cảm thấy được khích lệ, từ đó có xu hướng tránh mặt sếp và thậm chí là cân nhắc thôi việc.
Mức độ này là phổ biến trong các công ty đang trong giai đoạn phát triển. Các phòng ban đang mở rộng quy mô và điều đó có nghĩa là nhu cầu về quản lý cũng tăng.
Thông thường, một trong số những nhân viên tại phòng đó được trao quyền lãnh đạo như một phần thưởng. Tình trạng này xảy ra vì người lãnh đạo có ít hoặc không có kinh nghiệm, chưa kể đến việc anh ta là ai và anh ta quản lý nhân viên của mình như thế nào.
Chỉ khi nhà lãnh đạo mới nhận ra rằng lạnh đạo không chỉ là một danh hiệu, anh ta sẽ phát triển đến cấp độ cao hơn. Do đó, mức này là một điểm khởi đầu tốt để trải nghiệm và học cách lãnh đạo.

2. SỰ CHO PHÉP
Cấp độ này nói về những mối quan hệ mà người lãnh đạo xây dựng. Nó cũng giống như anh ta được phép thể hiện như một nhà lãnh đạo; anh ta là một người đáng tin cậy và nhân viên có khuynh hướng đồng ý với những quyết định của anh ấy.
Khi có mối quan hệ tốt với nhân viên, người lãnh đạo hiểu rằng sẽ dễ dàng khiến họ phấn đấu nhiều hơn. Một phần động lực của họ xuất phát từ chính bản thân họ, nhưng cũng là kết quả của nhà lãnh đạo khi trao đi sự tin tưởng.
Ngược lại, các nhân viên tin tưởng vào lãnh đạo của họ và những mục tiêu anh ta cố gắng. Các mối quan hệ tốt sẽ tăng cường tính hợp tác, củng cố lòng trung thành và sự tin tưởng lẫn nhau.
Một nhà lãnh đạo ở cấp độ này thể hiện sự quan tâm chân thành đến các đồng nghiệp, nhân viên của mình và hiểu họ một cách tốt hơn. Mọi đồng nghiệp và nhân viên có cuộc sống gia đình, các vấn đề về sức khoẻ, và sở thích cá nhân đáng được quan tâm.
Bạn nên khôn ngoan khi khen ngợi các đồng nghiệp và nhân viên, và đưa ra những lời khuyên tốt nhất, đúng nhất dành cho họ. Việc xây dựng một mối quan hệ tốt, dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, dẫn đến không khí làm việc dễ chịu và tinh thần đồng đội.
Tuy nhiên, nó không phải lúc nào cũng dẫn đến kết quả tích cực. Điều đó đòi hỏi sự phát triển đến trình độ lãnh đạo cấp 3.

3. SẢN XUẤT
Khả năng lãnh đạo có thể đo lường được qua những kết quả đã đạt được. Một nhà lãnh đạo thực sự có ý nghĩa gì đối với công ty?
Thực tế là cấp độ này xuất hiện sau khi xây dựng mối quan hệ cá nhân tốt, đồng thời, các đồng nghiệp và nhân viên là yếu tố rất quan trọng để đạt được kết quả khả quan.
Chỉ khi nào một nhóm có thể cùng nhau thực hiện các bước nhỏ, tin tưởng lẫn nhau, thì sẽ đạt được kết quả khả quan.
Khi nhân viên chỉ được nói là hãy làm việc chăm chỉ đi mà không hề có sự quan tâm hay sự thông cảm đối từ phía lãnh đạo, thì có nguy cơ họ sẽ bị bào mòn.
Các nhà lãnh đạo ở cấp độ này sử dụng các mối quan hệ tốt của họ để thực tế hóa tầm nhìn của chính mình. Như vậy, điều quan trọng là một nhà lãnh đạo làm thế nào để mọi người trong công ty hiểu về tầm nhìn của mình, vì vậy mọi người có thể cùng hành động.
Nhà lãnh đạo này được yêu thích bởi những người trong đội của mình. Nhưng nó cũng ẩn chứa nhiều nguy hiểm. Nếu vị lãnh đạo này có được vị trí khác trong công ty, có thể nhóm sẽ tan rã.
Rốt cuộc, nhân viên phụ thuộc vào hướng dẫn mà họ thường nhận được từ vị sếp trực tiếp của mình . Để tránh mất đồng đội khi trong tình huống như vậy, thì khả năng lãnh đạo sẽ phát triển đến mức độ lãnh đạo thứ tư.

4. PHÁT TRIỂN MỌI NGƯỜI
Ở cấp độ quản lý này, bạn cần tập trung vào sự thúc đẩy và phát triển nhân viên. Các nhà lãnh đạo ở cấp độ thứ tư này rất quan trọng với sự phát triển của công ty.
Nhà lãnh đạo này nghĩ rằng điều quan trọng là đào tạo nhân viên của mình. Đó là lý do tại sao anh ta giao việc cho họ. Bằng cách ủy thác công việc, anh ta giúp họ tự tin hơn và cho họ cơ hộ phát triển bản thân.
Sự tự tin này phải được thể hiện thật chân thật và rõ ràng với nhân viên. Theo John Maxwell, nhà lãnh đạo cấp 4 dành khoảng 80% thời gian của mình để huấn luyện cho các đồng nghiệp và nhân viên, và chỉ dành 20% để phát triển năng suất của chính mình.
Khác với nhà lãnh đạo cấp 3, nhà lãnh đạo ở cấp này học cách cho đi. Việc tập trung vào các kết quả có tầm quan trọng thứ yếu.
Thách thức chính đối với các nhà lãnh đạo ở cấp độ này là đưa sự phát triển của người khác lên hàng đầu, trên cả lợi ích của họ. Các nhà lãnh đạo càng có nhiều phẩm chất tốt, thì điều này càng tốt cho sứ mệnh và tầm nhìn của tổ chức.
Các nhà lãnh đạo mới được đào tạo, điều này khiến cho các đội năng suất hơn. Hơn nữa, những nhân viên mới được đào tạo sẽ luôn đánh giá cao những gì lãnh đạo đã làm cho họ.
Một số trong số những “mối quan hệ cố vấn” có thể kéo dài suốt cuộc đời.

5. ĐỈNH CAO
Các nhà lãnh đạo ở cấp độ này đã đạt đến đỉnh cao của những gì có thể. Vị thế của anh ta dựa trên nền tảng của sự tôn trọng. Các nhân viên và đồng nghiệp của anh ta đánh giá cao lãnh đạo của mình đến mức coi anh ta như một tấm gương để noi theo.
Anh ta là kiểu nhà lãnh đạo sẽ khiến nhân viên nhớ mãi kể cả khi anh ta đã rời đi, với họ, anh ta như thể một huyền thoại. Từ cấp thứ 4, một nhà lãnh đạo sẽ luôn đào tạo được một lứa những người lãnh đạo mới trong công ty, điều chắc chắn sẽ tạo nên thế hệ lãnh đạo mới.
Và bạn tự đánh giá bản thân mình ở cấp độ nào, và làm sao nhanh chóng vượt lên các cấp độ lãnh đạo cao hơn.

“ĐỪNG ĐỢI ĐƯỢC THĂNG CẤP! HÃY BẮT ĐẦU LÃNH ĐẠO NGAY TỪ BÂY GIỜ, TẠI VỊ TRÍ BẠN ĐANG ĐỨNG!”

——————-
Đọc thêm 1 ebook rất hay của Jonh C. Maxwell về lãnh đạo: 
Nhà Lãnh Đạo 360°

P/s: Để lãnh đạo được người khác, bạn ít nhất phải giỏi hơn họ 1 cái gì đó. Vì thế, 1 gợi ý cho bạn là Hãy trang bị cho mình 1 trong những công cụ quản lý tiến độ phổ biến và hữu ích nhất hiện nay là MS Project - Xem ngay

Nguồn: manaaz.com

Saturday, February 2, 2019

PMBOK Guide 6th Edition - Những điều cần biết

ĐTC - PMBOK Guide 6th Edition - Những điều cần biết

PMBOK Guide 6th Edition - Những điều cần biết


Bắt đầu từ cuối tháng 3/2018 PMBOK Guide phiên bản thứ 6 của PMI đã chính thức có hiệu lực. Trong bài viết này ĐTC sẽ cùng các bạn điểm qua 1 vài điểm thay đổi đáng lưu ý trong phiên bản này, nếu các bạn đang theo PMBOK 5th. 


Bài việc sẽ giới thiệu tới các bạn về những thay đổi chính, giúp những người đang làm quản lý dự án có được định hướng cũng như thông tin cập nhật về các hoạt động quản lý trong dự án. Nó cũng sẽ giúp các bạn đang chuẩn bị thi có cái nhìn bao quát hơn về các thay đổi, từ đó có sự chuẩn bị chủ động, tích cực hơn cho kỳ thi của mình.

Điểm đầu tiên phải kể đến là sự bổ sung 2 nhóm năng lực mà PM cần phải có để có thể thích ứng vào môi trường năng động và mau thay đổi hiện nay cũng như xu thế phát triển của ngành công nghiệp. Với sự bổ sung này, ngoài ra các kỹ năng và năng lực chuyên nghiệp (skills & competencies), PM cần phải đáp ứng các chuẩn năng lực theo PMI Talent Triangle (Tam giác tài năng của PMI).

Như vậy, PM cần sở hữu nhóm 3 năng lực như sau:
  • Strategic & Business Management (Quản lý chiến lược và quản lý kinh doanh): hiểu được sự phù hợp và tương xứng của dự án bạn đang quản lý đối với các chiến lược kinh doanh của tổ chức. PM cần có khả năng phân tích sự cạnh tranh, thị trường, và giúp bạn hiểu được ảnh hưởng của các yêu cầu luật pháp và các mô hình kinh doanh v.v…
  • Leadership Skills (Kỹ năng lãnh đạo): Những kỹ năng lãnh đạo cần thiết để bạn có thể thúc đẩy và truyền cảm hứng cho project team của bạn bao gồm:
              +/ Emotional intelligence (EI = trí thông minh cảm xúc),
              +/ Problem solving (giải quyết vấn đề),
              +/ Team building (xây dựng đội ngũ)
              +/ Influencing (gây ảnh hưởng)
  • Technical Skills (năng lực kỹ thuật): là năng lực kỹ thuật chuyên môn và quản lý dự án trong ngành công nghiệp liên quan
PMBOK Guide 6th cũng có sự đổi tên hai nội dung kiến thức:
- Time Management đổi thành Schedule Management nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lập và quản lý tiến độ dự án.
- HR Management đổi sang Resource Management nhằm phản ánh thực tế đã và đang diễn ra là PM phải quản lý mọi tài nguyên dự án như nhân lực, trang thiết bị, máy thi công, nhà xưởng, vật tư vật liệu, giấy phép/bản quyền sở hữu trí tuệ v.v… chứ không chỉ nhân lực.
=> Như vậy chúng ta có thể thấy ở phiên bản PMBOK số 6 này thì 2 nội dung TIẾN ĐỘ (Schedule), và TÀI NGUYÊN (Resource) được quan tâm nhiều hơn. Và đây cũng là 2 nội dung chính trong khóa học MS Project mà ĐTC đang triển khai (Xem mô hình nội dung đào tạo TẠI ĐÂY)

Trong mỗi nội dung kiến thức đều có bổ sung thêm các nội dung:
  • Các khái niệm chính (key concepts)
  • Các xem xét điều chỉnh (tailoring considerations)
  • Các phát triển và thực hành mới (the developments and new practices)
Tập trung vào phương pháp luận Agile (linh hoạt) và thích nghi
Phương pháp Agile đã được PMI lưu tâm nhằm đáp ứng xu thế thay đổi ngày càng nhanh về môi trường kinh doanh nói chung và các yêu cầu sản phẩm thực tế nói riêng. PMBOK Guide 6th đã có thêm hẳn một chương hướng dẫn về phương pháp luận này – “Agile Practice Guide”.

Các quy trình chi tiết cũng có một số thay đổi:

  • Bỏ quy trình Close Procurement (các nội dung đang có được chuyển sang các quy trình Control ProcurementClose Project)
  • Thêm ba quy trình: Manage Project Knowledge, Implement Risk Responses, Control Resources.
Knowledge Area
Process Group
Processes
Integration Management
Executing Process Group
Manage Project Knowledge
Risk Management
Executing Process Group
Implement Risk Responses
Resource Management
Monitoring and Controlling
Control Resource
  • Sáu quy trình được mang tên mới nhưng vẫn giữ nội dung cơ bản như version trước

PMBOK 5 Process Name
PMBOK 6 Process Name
Perform Quality Assurance
Manage Quality
Plan Human Resource Management
Plan Resource Management
Control Communications
Monitor Communications
Control Risks
Monitor Risk
Plan Stakeholder Management
Plan Stakeholder Engagement
Control Stakeholder Engagement
Monitor Stakeholder Engagement
  • Thay đổi trong cấu phần của Kế hoạch quản lý dự án - Project Management Plan và vai trò của Tài liệu dự án - Project Documents hay việc bổ sung khái niệm Escalate Response.

Như vây, với PMBOK Guide 6th Edition có rất nhiều nội dung chúng ta cần biết thêm để cập nhật thêm các điểm mới cũng như kiến thức chuẩn quản lý dự án thời đại mới.
Nếu bài viết hữu ích, đừng quên, like, share chia sẻ nhé.

Nếu bạn chưa có file Pdf cuốn PMBOK guide 6th thì có thể tìm và download TẠI ĐÂY

Tuesday, January 29, 2019

Quy trình và công cụ quản trị rủi ro

ĐTC - Quy trình và công cụ quản trị rủi ro

Quy trình và công cụ quản trị rủi ro

Hiện tại hệ thống quản lý của hầu hết các công ty xây dựng vừa và nhỏ chưa có hệ thống quản lý rủi ro. Trong khi thực tế hiện tại lĩnh vực lĩnh vực này lại chứa đựng rất nhiều rủi ro như chậm tiến độ, vượt ngân sách, chất lượng sản phẩm xây dựng không đảm bảo… Cách ứng phó với rủi ro của các công ty hiện tại đang rất thụ động, tùy tiện và không có kế hoạch. Các rủi ro không được dự báo, cảnh báo trước, khi xảy ra thì mới tìm cách giải quyết. 

Ví dụ: Chậm tiến độ thi công ở công trường do chủ đầu tư chưa có bản vẽ được phê duyệt ... Tài chính của chủ đầu tư không tốt ... Điều khoản hợp đồng chưa chặt chẽ dẫn tới bất lợi khi xảy ra tranh chấp ....
Việc có một hệ thống quản trị rủi ro tốt không những giảm thiểu thiệt hại lãng phí, gia tăng lợi nhuận công ty mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn cho công ty.
Do đó yêu cầu cấp thiết của các công ty là phải triển khai xây dựng hệ thống quản trị rủi ro và thực hiện quản trị rủi ro cho toàn bộ hệ công ty.

Trong bài viết này ĐTC sẽ chia sẻ với bạn 1 bài viết về quy trình và các công cụ quản trị rủi ro mà ĐTC đã có dịp tham gia khi xây dựng chiến lược quản trị rủi ro cho 1 công ty trước đây.

I - QUY TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO
Quy trình quản trị rủi ro
a) Bước 1: Lập danh sách các rủi ro
Giai đoạn này cần huy động trí tuệ tập thể để lập ra một danh sách các rủi ro tiềm tàng.
Ví dụ, trước khi ký kết một thực hiện một dự án BLĐ công ty sẽ họp nhóm các cá nhân, phòng ban liên quan để lập ra một danh sách các rủi ro theo như danh mục phân loại bên trên.

b) Bước 2, bước 3: Xác định khả năng xảy ra và mức độ ưu tác hại của các rủi ro
Hai bước này giúp rà soát kỹ lưỡng danh sách các rủi ro, để xác định thứ tự ưu tiên cho các rủi ro (Sử dụng Ma trận rủi ro).
Ở bước này cần trả lời 2 câu hỏi:
- Mỗi rủi ro có bao nhiêu khả năng trở thành sự thật?
- Mỗi rủi ro nếu trở thành sự thật thì sẽ gây tác hại đến mức nào? 

c) Bước 4: Ngăn chặn hoặc giảm nhẹ rủi ro
Bước này được thực hiện trước khi rủi ro xảy ra.
Ví dụ, ở dự án A có một nhà cung cấp vật liệu xây dựng thường xuyên bị trễ tiến độ cấp hàng, chất lượng hàng hóa không đồng đều… thì có thể ngăn chặn rủi ro cho dự án B bằng cách tìm một nhà cung cấp khác đáng tin cậy hơn để thay thế. Trong trường hợp vẫn phải tiếp tục sử dụng nhà cung cấp đó thì cần phải thực hiện các giải pháp khác để cải thiện tiến độ cấp hàng và kiểm soát chất lượng đầu vào của hàng hóa để giảm nhẹ rủi ro.

d) Bước 5: Chuẩn bị sẵn sàng các biện pháp ứng phó
Bước này là bước thể hiện các hành động cụ thể sẽ được thực hiện nếu rủi ro xảy ra. Cần trả lời câu hỏi “Nếu rủi ro đó trở thành sự thật, chúng ta sẽ làm gì?” (Sử dụng bảng liệt kê danh mục rủi ro).

e) Bước 6: Xác định điểm kích hoạt biện pháp ứng phó
Điểm kích hoạt là yếu tố quan trọng nhất của kế hoạch quản trị rủi ro. Điểm kích hoạt được xác định là khi rủi ro đã trở thành sự thật và buộc phải triển khai các biện pháp ứng phó. Điểm kích hoạt là thời điểm tối ưu để có thể tối đa hóa giá trị của các biện pháp ứng phó.
Ví dụ, một thời hạn bảo lãnh tạm ứng hợp đồng của một thầu phụ A đến ngày 7/2/2019 hết hạn trong khi chưa thực hiện khấu trừ hết trong các đợt thanh toán. Thì kế hoạch ứng phó là yêu cầu thầu phụ A gia hạn thời hạn bảo lãnh tạm ứng đó. Nếu thời gian để thực hiện việc gia hạn của ngân hàng là 1 tuần thì Điểm kích hoạt ở đây là ngày 1/2/2019.

II - CÔNG CỤ QUẢN TRỊ RỦI RO
Chúng ta sử dụng 2 công cụ chính và phổ biến sau:
1/ Ma trận rủi ro

2/ Bảng liệt kê danh mục rủi ro

STT
Tên rủi ro
Mô tả rủi ro và ảnh hưởng
Khả năng xảy ra
Tác động
Nguyên nhân
Giải pháp khắc phục, giảm thiểu và ứng phó với rủi ro
1






2






3







Bên trên là những chia sẻ ngắn gọn về quy trình và một số công cụ quản trị rủi ro. Bài viết sắp tới ĐTC sẽ chia sẻ với bạn cách áp dụng công cụ quản trị rủi ro này trong Microsoft Project. Hãy follow để đón đọc nhé.

Từ khóa tìm kiếm:
- quản trị rủi ro
- quy trình quản trị rủi ro
- công cụ quản trị rủi ro
- risk management
- risk matrix

Sunday, January 27, 2019

Tổng quan kiến thức chứng khoán

ĐTC - Tổng quan kiến thức chứng khoán
Tổng quan kiến thức chứng khoán

Có lẽ nhiều anh em làm xây dựng, xây dựng doanh nghiệp xây dựng cũng đã biết qua về Chứng khoán cũng như chơi chứng khoán và coi đây là kênh đầu tư. ĐTC cũng đang đầu tư vào thị trường chứng khoán, cũng nắm giữ cổ phiếu của 1 vài doanh nghiệp xây dựng và 1 vài lĩnh vực kinh doanh khác. Gần đây ĐTC cũng tìm hiểu để biết thêm về quy định của Pháp luật về lĩnh vực này, tiện thể chia sẻ với anh em luôn và Hy vọng sẽ hữu ích với 1 số anh em xây dựng đang có tiền nhàn rỗi muốn đầu tư vào lĩnh vực này.
Đầu tiên sẽ có 1 câu hỏi đơn giản là:
Chứng khoán là gì? Chứng khoán gồm những loại nào?
Khoản 3 Điều 1 Luật chứng khoán sửa đổi 2010 có quy định như sau:
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
+ Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
+ Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;
+ Hợp đồng góp vốn đầu tư;
+ Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.
Trong đó, các loại chứng khoán này được hiểu như sau:
- Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
- Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
- Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng.
- Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành nhằm mang lại cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phần mới theo điều kiện đã được xác định.
- Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định.
- Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước.
- Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai.
- Hợp đồng góp vốn đầu tư là hợp đồng góp vốn bằng tiền hoặc tài sản giữa các nhà đầu tư với tổ chức phát hành hợp đồng nhằm mục đích lợi nhuận và được phép chuyển đổi thành chứng khoán khác.


----------------------------------

Có bao nhiêu Hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng ?

Khoản 1 Điều 10 Luật chứng khoán sửa đổi 2010 có quy định như sau:
Chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng bao gồm:
a) Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để huy động vốn cho tổ chức phát hành;
b) Chào bán chứng chỉ quỹ lần đầu ra công chúng để thành lập quỹ đầu tư chứng khoán;
c) Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để trở thành công ty đại chúng thông qua thay đổi cơ cấu sở hữu nhưng không làm tăng vốn điều lệ của tổ chức phát hành;
d) Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để thành lập doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng, lĩnh vực công nghệ cao, hoặc thành lập tổ chức tín dụng cổ phần;
đ) Chào bán hợp đồng góp vốn đầu tư ra công chúng.



----------------------------------
Các chỉ số tài chính của doanh nghiệp cần biết khi chọn mua cổ phiếu?

STT
Chỉ số
Ý nghĩa
Cách xác định
1
Cho biết khả năng của một công ty trong việc dùng các tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho hay các khoản phải thu để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình. Tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàn trả được hết các khoản nợ. Tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đang ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các khoản nợ khi đáo hạn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sản bởi vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn. Mặt khác, nếu tỷ số này quá cao cũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi vì nó cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản chưa được hiệu quả.
Tỷ số thanh toán hiện hành = (Tài sản ngắn hạn)/(Nợ ngắn hạn)
2

Tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio)

Tỷ số thanh toán nhanh cho biết liệu công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không. Tỷ số này phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành. Một công ty có tỷ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và phải được xem xét cẩn thận. Ngoài ra, nếu tỷ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán hiện hành thì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho. Các cửa hàng bán lẻ là những ví dụ điển hình của trường hợp này.
Tỷ số thanh toán nhanh = (Tiền và các khoản tương đương tiền+các khoản phải thu+các khoản đầu tư ngắn hạn)/(Nợ ngắn hạn)
3

Tỷ số thanh toán tiền mặt (Cash Ratio)


Tỷ số thanh toán tiền mặt cho biết một công ty có thể trả được các khoản nợ của mình nhanh đến đâu, vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất.
Tỷ số thanh toán tiền mặt = (Các khoản tiền và tương đương tiền)/(Nợ ngắn hạn)
4

Thu nhập trên cổ phần (EPS)


EPS đóng vai trò như một chỉ số về hiệu quả hoạt động của công ty. Khi tính EPS, người ta thường dùng khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong suốt kỳ báo cáo để có kết quả chính xác hơn, bởi vì số lượng cổ phiếu lưu hành có thể thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, các nguồn dữ liệu đôi khi sẽ đơn giản hóa quá trình tính toán bằng cách dùng số lượng cổ phiếu đang lưu hành vào cuối kỳ. EPS pha loãng khác EPS cơ bản ở chỗ EPS pha loãng thường cộng thêm số lượng trái phiếu có thể chuyển đổi hay trái quyền vào số lượng cổ phiếu đang lưu hành. EPS thường được xem là chỉ số quan trọng nhất trong việc xác định giá của cổ phiếu. Đây cũng là thành phần chính dùng để tính toán chỉ số P/E. Một điểm quan trọng nữa thường bị bỏ qua là việc tính toán lượng vốn dùng để tạo ra lợi nhuận. Hai công ty có thể có cùng EPS, nhưng một công ty có thể sử dụng vốn ít hơn – tức là công ty đó có hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng vốn của mình để tạo ra lợi nhuận và, nếu những yếu tố khác là tương thì đây là công ty tốt hơn.
EPS = (LNST-cổ tức của cổ phiếu ưu đãi) / (KLCP lưu hành bình quân trong kỳ)
5

P/E


P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập cùa mỗi cổ phiếu. Trong đó, giá thị trường của là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao.
P/E = giá cổ phiếu / EPS
6

Giá trị sổ sách (Book value)


Giá trị ghi sổ cho biết giá trị tài sản công ty còn lại thực sự là bao nhiêu nếu ngay lập tức công ty rút lui khỏi kinh doanh. Vì giá trị ghi sổ là một thước đo rất chính xác giá trị của công ty, yếu tố không biến đổi quá nhanh, tương đối ổn định, nên nó là số liệu thích hợp để phân tích cho các nhà đầu tư, tức là mua cổ phiếu đúng giá trị để hưởng cổ tức hàng năm hơn là cho các nhà đầu cơ, người mua cổ phiếu rồi bán đi với giá đỉnh điểm để ăn chênh lệch.
BV = Tổng tài sản – TSCĐ vô hình – Nợ
7

P/B


P/B được dùng để so sánh giá cổ phiếu với giá trị ghi sổ của nó. P/B là công cụ phân tích giúp các nhà đầu tư tìm kiếm các cổ phiếu có giá rẻ mà thị trường ít quan tâm. P/B nhở hơn 1 có thể mang ý nghĩa là: DN đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi số của nó; giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức hoặc thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp. Nếu P/B lớn hơn 1 thì công ty đang làm ăn khá tốt và thu nhập trên tài sản cao. Chỉ số P/B chỉ thực sự hữu ích khi xem xét các công ty tài chính, hoặc công ty có giá trị tài sản tương đối lớn.
P/B= giá cổ phiếu/ (Book value/ số lượng cổ phiếu đang lưu hành bình quân)
8

Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)

 

Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính.
Chỉ số này cho biết công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng tài sản.

ROA = (Tổng LN sau thuế) / (Tổng tài sản)
9

Tỷ suất lợi nhuận thuần

 

– Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
– Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao.

TSLN thuần = (LN sau thuế) / ( Doanh thu thuần)
10

Tỷ suất lợi nhuận gộp

 

Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận nếu không tính đến chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Chỉ tiêu này sẽ phụ thuộc lớn vào đặc điểm của từng ngành.
TSLN gộp = (LN gộp) / (Doanh thu thuần) = (Doanh thu thuần – chi phí vốn hàng bán) / Doanh thu thuần
11

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

 

Cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty. Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một công ty cổ phần với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành.
ROE = (lợi nhuận sau thuế)/(vốn chủ sở hữu)
12

Lợi nhuận biên từ hoạt động kinh doanh

 

Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu lợi nhuận. Biên sẽ đóng vai trò một vùng đệm giữa doanh thu và chi phí. Về lý thuyết, những doanh nghiệp có biên lợinhuận cao có thể tồn tại vững vàng trong bối cảnh chi phí leo thang. Ngược lại, những doanh nghiệp có biên lợi nhuận thấp chỉ có thể tăng lợi nhuận bằng cách đẩy mạnh doanh thu. Khi gặp đợt gia tăng chi phí, những doanh nghiệp này sẽ rất khó khăn. Như vậy, việc theo dõi biên lợi nhuận theo thời gian không chỉ giúp nhà quản lý chủ động ứng phó với cơ hội và nguy cơ từ thị trường, mà còn giúp nhà đầu tư tránh những nhận định cảm tính để nhận diện được những doanh nghiệp có tiềm lực trong cơn bão giá.
(Lợi nhuận sau thuế)/(Doanh thu)
13

EPS cơ bản (Earning per share)

 

Là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp. EPS càng cao thì phản ánh năng lực kinh doanh của công ty càng mạnh, khả năng trả cổ tức càng cao và giá cổ phiêu sẽ có xu hướng tăng. Cần chú ý khi công ty thực hiện chia tách cổ phiếu. Ví dụ khi công ty thực hiện chia tách 2:1 thì EPS sẽ giảm 1 nửa.
EPS = (Thu nhập ròng-cổ tức của cổ phiếu ưu đãi)/(Số cổ phiếu lưu hành bình quân)
14

Hệ số nợ

 

– Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả. Chủ nợ thường thích công ty có tỷ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn. Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông. Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành.
– Tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản.
– Tỷ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay. Tuy nhiên thông thường, ở mức 60/40 là chấp nhận được. Có nghĩa Hệ số nợ là 60% (Tổng tài sản có 100 thì vốn vay là 60).

Hệ số nợ = (Tổng nợ)/ (Tổng tài sản)
15

Tỷ số khả năng trả lãi

 

– Hệ số này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãi của nó đến mức nào. Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ của mình càng lớn. Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ.
– Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nếu nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay.

Tỷ số khả năng trả lãi = (Lợi nhuận trước thuế và lãi vay)/ (Chi phí lãi vay)
16

Tỷ số khả năng trả nợ

 

– Tỷ số này cho biết để chuẩn bị cho mỗi đồng trả nợ gốc và lãi, doanh nghiệp có bao nhiêu đồng có thể sử dụng được.
– Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư vào dự án của doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Nói chung đến thời điểm trả nợ, nếu K > 1 thì có thể nói là khả năng trả nợ củacông ty là khá tốt, về mặt lý thuyết hệ số này càng cao cho thấy khả năng trả nợ của doanh nghiệp các tốt. Tuy nhiên nếu hệ số này cao quá có thể cho thấy thực trạng rằng việc quản lý và luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp là chưa tốt.

Tỷ số khả năng trả nợ = (GVHB + Khấu hao + EBIT)/ (Nợ gốc + Chi phí lãi vay)
17

Tỷ suất tự tài trợ

 

– Hệ số này phản ánh tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Để xác định mức độ phù hợp về tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong trong nguồn vốn của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc rất lớn vào hoạt động và chính sách của từng doanh nghiệp cũng như từng ngành.
– Tỷ số này cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp, nhưng cũng cho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng đòn bẩy tài chính nhiều.

Tỷ suất tự tài trợ = (Nguồn vốn chủ sở hữu) / (Tổng tài sản)
18

Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ

 

– Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ phản ánh tỷ lệ tài sản cố định được đầu tư.
– Tỷ suất này sẽ cung cấp dòng thông tin cho biết số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp dùng để trang bị TSCĐ và đầu tư dài hạn là bao nhiêu. Tỷ suất này nếu >1 thì chứng tỏ khả năng tài chính vững vàng, lành mạnh. Khi tỷ suất < 1 thì một bộ phận của TSCĐ được tài trợ bằng vốn vay, và đặc biệt mạo hiểm khi đó là vốn vay ngắn hạn.

Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ = (Nguồn vốn chủ sở hữu) / (Tổng tài sản cố định)
19

Hệ số vòng quay hàng tồn kho (Inventory turnover)

 

Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu.
Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm.
Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng.

Hệ số quay vòng hàng tồn kho = Doanh thu / Số dư hàng tồn kho cuối kì
hoặc [=Giá vốn hàng bán/Trung bình hàng tồn kho trong kì]
(Inventory turnover = Cost of goods sold / average inventory)

20

Hệ số vòng quay các khoản phải thu (Receivable turnover)

 

hỉ số vòng quay các khoản phải thu là một trong những tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nó cho biết các khoản phải thu phải quay bao nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó.
Có thể tính ra số vòng quay khoản phải thu bằng cách lấy doanh thu thuần (doanh thu không bằng tiền mặt) chia cho trung bình cộng đầu kỳ và cuối kỳ của giá trị các khoản phải thu. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao. Quan sát số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp.

Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu / bình quân các khoản phải thu
(Receivable turnover = Annual sales / average receivables)

21

Hệ số vòng quay các khoản phải trả (Payable turnover)

 

Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp.
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước. Ngược lại, nếu Chỉ số Vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước.
Nếu chỉ số Vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng.

Vòng quay các khoản phải trả = Doanh số mua hàng thường niên / Bình quân các khoản phải trả
(Payable turnover = Revenue / Avarage total assets)

22

Kỳ thu tiền bình quân (Days of sales outstanding)

 

Kỳ thu tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình cần thiết để một công ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng.
Xem xét xu hướng của kỳ thu tiền bình quân qua các thời kỳ của một công ty là có hiệu quả nhất. Nếu vòng quay các khoản phải thu tăng từ năm này qua năm khác cho thấy khả năng yếu kém trong việc quản lý công nợ ở một công ty.

Kỳ thu tiền bình quân = Phải thu khách hàng x 365 ngày/ Doanh thu bán chịu
hay =[365/Hệ số vòng quay các khoản phải thu]
(Days of sales outstanding = 365 / Receivables turnover)

23

Hệ số vòng quay tài sản cố định (Fixed asset turnover)

 

Chỉ số này giúp đánh giá hiệu quả sử dụng Tài sản cố định (TSCĐ) của doanh nghiệp, cho thấy 1 đồng TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
Chỉ số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
TSCĐ trong công thức là số bình quân, tức lấy tổng số dư đầu kỳ cộng với số dư cuối kỳ sau đó chia 2.

Vòng quay Tài sản cố định = Doanh thu thuần/Tài sản cố định bình quân
(Fixed asset turnover = Revenue / Average fixed assets)

24

Hệ số vòng quay tổng tài sản (Asset Turnover Ratio)

 

Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty. Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra.
Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả.
Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành.

Vòng quay tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản bình quân
(Asset turnover ratio = Revenue / Average assets)

25

Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (Days of inventory on hand)

 

Đây là thước đo thể hiện khả năng về mặt tài chính của công ty. Chỉ số này cho các nhà đầu tư biết về khoảng thời gian cần thiết để công ty có thể thanh lý được hết số lượng hàng tồn kho của mình (bao gồm cả hàng hoá còn đang trong quá trình sản xuất). Thông thường nếu chỉ số này ở mức thấp thì có nghĩa là công ty hoạt động khá tốt, tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng chỉ số DSI bình quân là rất khác nhau giữa các ngành. Đôi khi chỉ số này còn được gọi là số ngày lưu thông hàng tồn kho DIO (Days inventory outstanding)
Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho = 365 x Trung bình hàng tồn kho trong kì / Giá vốn hàng bán
hay = [365 / Vòng quay hàng tồn kho]
(Days of inventory on hand = 365 / Inventory turn over)

26

Kỳ chuyển đổi các khoản phải thu (Days of Sales Outstanding – DSO)

 

Đây là một chỉ số được tính bằng số ngày trung bình mà một công ty cần để thu hồi lại tiền bán hàng sau khi đã bán được hàng. Nếu như kỳ chuyển đổi các khoản phải thu ở mức thấp thì có nghĩa là công ty chỉ cần ít ngày để thu hồi được tiền khách còn nợ. Nếu tỉ lệ này cao thì có nghĩa là công ty chủ yếu là bán chịu cho khách hàng, thời gian nợ dài hơn.
Thời gian thu tiền khách hàng bình quân = 365 x Bình quân các khoản phải thu / Doanh thu
hay = [365/Vòng quay phải thu khách hàng]
(Days of Sales outstanding = 365 / Receivables turnover)

27

Kỳ chuyển đổi các khoản phải trả (Days of Payables Outstanding – DPO)

 

Là chỉ số thể hiện số ngày trung bình mà công ty cần để trả tiền cho nhà cung cấp. Hệ số này thế hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người bán. Hệ số kỳ chuyển đổi các khoản phải trả cao nghĩa là công ty có quan hệ tốt với nhà cung cấp và có khả năng kéo giãn thời gian trả tiền cho người bán. Ngược lại hệ số DPO thấp nghĩa là công ty phải trả tiền cho người bán trong thời gian ngắn sau khi nhận hàng.
Kỳ chuyển đối các khoản phải trả = 365 x Bình quân các khoản phải trả / Chi phí bán hàng
hay = [365/Vòng quay các khoản phải trả]
(Number of days of payables 365 / Payables turnover ratio)

28

Kỳ chuyển tiền mặt (Cash Conversion Cycle – CCC)

 

Con số này càng cao, thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động khác như đầu tư. Chu kỳ tiền mặt được tính từ khi chi trả cho các nguyên liệu thô tới khi nhận được tiền mặt trong bán hàng.
Nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả năng quản lý vốn lưu động tốt. Ngược lại, con số này lớn có thể được giải thích là: doanh nghiệp phải thuê thêm vốn trong khi vẫn phải chờ khách hàng trả nợ tiền hàng cho mình.
Quá trình sản xuất càng dài, lượng tiền mặt mà doanh nghiệp phải thuê thêm để đầu tư càng lớn. Tương tự, thời gian khách hàng thanh toán các hóa đơn càng lâu, thì giá trị của các hóa đơn càng giảm. Hay nói cách khác, tài khoản có thể thu hồi về được làm giảm vốn lưu động của doanh nghiệp

Kỳ chuyển đổi tiền mặt = Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho + Kỳ phải thu khách hàng – Kỳ phải trả khách hàng.
(Cash Conversion Cycle = Days sales outstanding + Days of inventory on hand – Number of days of payables)


----------------------------------
Tôi muốn download ebook về chứng khoán để đọc tham khảo?
Link truy cập kho ebook sách chứng khoán và các loại sách khác:

 ----------------------------------
Các trang web thông tin uy tín về thị trường chứng khoán?
Để tìm hiểu các kiến thức và thông tin thị trường chứng khoán, bạn có thể tham khảo Top các website về thị trường chứng khoán tại đây:

 ----------------------------------
...Continues
Nội dung tiếp theo:
- Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng gồm những gì?
- Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng gồm những gì?
- Các văn bản pháp quy hiện hành về chứng khoán?
- Các mã cổ phiếu doanh nghiệp xây dựng, vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán hiện tại?
- Muốn mở tài khoản để giao dịch chứng khoán thì phải làm thế nào?
Đừng quên Like, share để nhận các thông tin tiếp theo của bài viết này



Từ khóa tìm kiếm:

- thị trường chứng khoán
- đầu tư chứng khoán
- học chứng khoán
- kiến thức đầu tư chứng khoán
- tài liệu, sách chứng khoán
- chỉ số tài chính doanh nghiệp
- sức khỏe doanh nghiệp

Gửi câu hỏi cho ĐTC

Name

Email *

Message *